Tranh dân gian Đông Hồ là một dòng tranh mộc bản truyền thống có lịch sử hình thành khoảng 500 năm tại khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Khác biệt với các dòng tranh thờ có tính chất nghiêm trang như Hàng Trống hay Kim Hoàng, tranh Đông Hồ gắn liền trực tiếp với sinh hoạt, tâm tư và nhu cầu thẩm mỹ bình dị của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Sự gắn kết này tạo nên mỹ tục "chơi tranh Tết" đặc sắc, khi mỗi dịp xuân về, người dân lại mua những bức tranh mới mang sắc màu tươi tắn về treo trong nhà với mong ước cầu may mắn, bình an và xua đi những điều không may của năm cũ.
Bức tranh Đàn gà mẹ con vẽ khung cảnh gà mẹ đang chăm nom cho đàn con của mình. Tranh biểu trưng cho sự đầm ấm gia đình, sinh sôi nảy nở, con cháu sum vầy. Ảnh: Sưu tầm
Sức hấp dẫn riêng biệt của nghệ thuật tranh Đông Hồ đến từ quy trình chế tác thủ công tinh xảo, bắt đầu bằng việc chuẩn bị nguyên liệu hoàn toàn từ thiên nhiên. Tranh được in trên nền giấy Dó — loại giấy bền bỉ làm từ vỏ cây dó, sau đó được quét một lớp hồ quấy từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn trộn với bột vỏ điệp (loại sò biển). Lớp hồ điệp này khi khô không chỉ tạo nên sắc trắng ngà đặc trưng mà còn mang lại bề mặt óng ánh bắt sáng rất tự nhiên. Bảng màu dùng trong tranh cũng phản ánh triết lý sinh thái dân gian sâu sắc khi toàn bộ màu sắc đều được chắt lọc từ cỏ cây, hoa lá và khoáng vật xung quanh: màu đen mượt lấy từ than lá xoan hay than rơm nếp, màu vàng tươi từ hoa hòe sao vàng, màu đỏ thắm từ sỏi son hay gỗ vang, màu xanh dịu từ lá chàm và màu xanh lục từ gỉ đồng.
Khuôn khắc được thực hiện tỉ mỉ bởi các nghệ nhân, đảm bảo các lớp in đúng hình và vị trí in.
Về kỹ thuật chế tác, nghệ nhân Đông Hồ áp dụng phương pháp in ngửa bản gỗ đòi hỏi tính chính xác và sự khéo léo tuyệt đối. Khác với quy trình in nét rồi tô màu thủ công như tranh Hàng Trống, mỗi màu sắc trong tranh Đông Hồ tương ứng với một bản khắc gỗ riêng biệt. Nghệ nhân sẽ thực hiện in các mảng màu mảng trước, đi từ màu nhạt đến màu đậm theo thứ tự đỏ, xanh, vàng, trắng, và cuối cùng mới dùng ván nét đen để "gói" toàn bộ các mảng màu lại, giúp định hình bố cục một cách gãy gọn, dứt khoát. Về mặt ngôn ngữ tạo hình, nghệ thuật Đông Hồ không lệ thuộc vào quy luật xa gần hay ánh sáng của hội họa phương Tây mà chú trọng đến tính biểu trưng, ước lệ và sự cân bằng trong không gian hai chiều, giúp hình tượng trở nên cô đọng và giàu tính biểu cảm.
Các khuôn khắc nét với đa dạng chủ đề khác nhau. Ảnh: Sưu tầm
Hệ thống chủ đề của tranh Đông Hồ vô cùng phong phú, phản ánh toàn diện thế giới quan và tâm thức nhân sinh của người Việt. Ở nhóm tranh chúc tụng, những tác phẩm tiêu biểu như Vinh hoa, Phú quý, Gà đàn hay Lợn âm dương gửi gắm ước mơ về cuộc sống no đủ, con cháu đông đúc và sự sinh sôi nếp nhà; hình ảnh vòng xoáy âm dương trên lưng con lợn là biểu hiện nghệ thuật cho triết lý hòa hợp vạn vật của vũ trụ. Nhóm tranh châm biếm và bài học đạo đức như Đánh ghen, Hứng dừa hay Mèo khen mèo dài đuôi lại sử dụng tiếng cười hóm hỉnh, thâm thúy để phê phán thói hư nết xấu và những bất công trong xã hội phong kiến. Trong khi đó, các bức tranh sinh hoạt và lịch sử như Đám cưới chuột, Chăn trâu thả diều hay Bà Trưng cưỡi voi vừa tái hiện không khí lễ hội, cảnh sinh hoạt thanh bình của làng quê, vừa giáo dục tinh thần yêu nước và đạo lý uống nước nhớ nguồn.

Tranh vẽ cảnh đám cưới của cặp đôi chuột, đang dâng sính lễ lên cho mèo, mong cầu một cuộc sống bình yên sau lễ cưới. Bức tranh Đám cưới chuột là tiếng lòng của nhân dân đối với xã hội phong kiến áp bức thuở xưa. Ảnh: Sưu tầm
Vinh Hoa – Phú Quý là cặp tranh nổi tiếng của dòng tranh Đông Hồ. Miêu tả hai em bé ôm gà vịt, tranh được coi như lời chúc tụng mưu cầu vinh hoa, tài lộc, mong muốn gia đình có một cuộc sống ấm no, giàu sang. Ảnh: Sưu tầm
Tranh Đàn lợn âm dương thể hiện ước vọng về một cuộc sống an lành, bình yên, không có tai ương, bệnh tật. Bức tranh thường được treo trong nhà vào dịp Tết Nguyên Đán, mang ý nghĩa cầu chúc một năm mới an khang, thịnh vượng, đông con, nhiều cháu. Ảnh: Sưu tầm
Trải qua những biến động của lịch sử và sự thay đổi trong lối sống hiện đại, chợ tranh Tết truyền thống dần mai một và số lượng nghệ nhân theo nghề giảm sút đáng kể. Nhằm bảo tồn di sản quý báu này, Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2012. Đặc biệt, vào tháng 12 năm 2025, tại Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 tại New Delhi (Ấn Độ), UNESCO đã chính thức ghi danh "Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ" vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sự kiện quan trọng này không chỉ ghi nhận giá trị độc đáo của dòng tranh trong kho tàng mỹ thuật nhân loại mà còn thúc đẩy các chiến lược bảo tồn, truyền dạy và đưa chất liệu nghệ thuật Đông Hồ tiếp tục sống động trong đời sống văn hóa đương đại.
Tấn Vinh